17:04 ICT Thứ ba, 21/11/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 29

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 28


Hôm nayHôm nay : 1232

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 50462

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2311953

Tỷ giá ngoại tệ

Tháng M. một 21, 2017, 4:09 pm
Code Buy Transfer Sell
AUD 16,964.52 17,066.92 17,219.16
CAD 17,461.52 17,620.10 17,848.52
CHF 22,571.85 22,730.97 23,025.66
DKK - 3,529.75 3,640.46
EUR 26,469.40 26,549.05 26,785.87
GBP 29,745.06 29,954.74 30,221.94
HKD 2,866.46 2,886.67 2,929.94
INR - 348.10 361.77
JPY 198.79 200.80 202.60
KRW 19.11 20.12 21.39
KWD - 75,106.66 78,055.10
MYR - 5,439.76 5,510.29
NOK - 2,697.94 2,782.56
RUB - 381.76 425.41
SAR - 6,042.26 6,279.46
SEK - 2,644.51 2,711.14
SGD 16,535.63 16,652.20 16,834.37
THB 678.24 678.24 706.54
USD 22,675.00 22,675.00 22,745.00

Trang nhất » Tin Tức » Tri thức

Quang cao giua trang
top

THUYẾT “VÒNG XOẮN IM LẶNG” CỦA NOELLE- NEUMANN VÀ VẤN ĐỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

Tác giả: Đặng Thị Lệ Thu - Thứ năm - 05/02/2015 14:58
THUYẾT “VÒNG XOẮN IM LẶNG” CỦA NOELLE- NEUMANN  VÀ VẤN ĐỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

THUYẾT “VÒNG XOẮN IM LẶNG” CỦA NOELLE- NEUMANN VÀ VẤN ĐỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

Elisabeth Noelle sinh năm 1916 tại Berlin (Đức) trong một gia đình có truyền thống khoa học. Bà học báo chí, lịch sử và khoa học tự nhiên tại Đại học Missouri- Mỹ, sau đó bà trở về Đức trong vai trò là giáo sư tại Đại học Berlin. Thuyết vòng xoắn im lặng mà bà sáng lập đã được vận dụng vào việc nghiên cứu chủ nghĩa phát xít của Hitler, sự tàn sát người Do Thái vào thời Hitler, chiến tranh,…và nó đã tỏ ra hữu ích trong lý giải nhiều hiện tượng xã hội, nhất là khả năng vận dụng trong nghiên cứu dư luận xã hội.

 Về hiện tượng “vòng xoắn im lặng”
Thuyết “vòng xoắn im lặng” (The Spiral of Silence) của E. Neumann lần đầu tiên được công bố tại Đại học Chicago năm 1984 và nó đã tạo ra tiếng vang lớn nhờ khả năng vận dụng trong nghiên cứu về dư luận xã hội.
Theo Noelle-Neumann: “Vòng xoắn im lặng là một mô hình giải thích tại sao con người không sẵn sàng bày tỏ công khai quan điểm của mình khi họ tin rằng mình thuộc về thiểu số”. Neumann đặc biệt quan tâm đến khía cạnh tâm lý cá nhân khi tham gia vào dư luận xã hội. Nếu cá nhân là số ít, hoặc cho rằng mình thuộc về số ít, họ sẽ giữ im lặng để đảm bảo không bị cô lập. Khi đưa ra quan điểm này, bà dựa trên 3 tiền đề: Thứ nhất, con người có giác quan thứ 6 và điều này cho phép họ nắm được dư luận xã hội đang phổ biến mà không cần phải thăm dò; thứ hai, con người sợ bị cô lập và họ biết thái độ nào sẽ làm tăng khả năng bị cô lập; thứ ba, con người rất dè dặt trong việc biểu lộ những quan điểm mang tính thiểu số của mình, chủ yếu là vì họ sợ bị cô lập.
Từ sự phân tích 3 tiền đề trên, có thể nhận thấy sự quan tâm đặc biệt của Neumann đến khía cạnh tâm lý của cá nhân xã hội. Sự lo sợ bị cô lập, lo sợ mất an toàn đã khiến họ sẵn sàng che giấu quan điểm riêng của mình hơn là thể hiện trước công chúng. Nhận định này đã được chia sẻ bởi quan điểm của Alexis de Tocqueville: “Nỗi sợ hãi bị cô lập còn lớn hơn cả nỗi sợ khi mắc lỗi, vì thế họ học cách tham gia vào tình cảm của đa số”. Sự chia sẻ quan điểm chung với mọi người xung quanh khiến cho cá nhân cảm thấy mình không hề “khác người”, mình là thành viên của tập thể và sự hòa đồng như vậy khiến họ thấy an tâm hơn.
Neumann cũng khẳng định rằng số lượng người không dám thể hiện quan điểm khác biệt càng nhiều thì số ủng hộ với quan điểm đó càng giảm đi. Lý do chính được Neumann đưa ra là sự sợ hãi bị cô lập, bị chê cười và chế giễu đã làm cho cá nhân sợ hãi khi đưa ra quan điểm của riêng mình, dù rằng quan điểm của họ là đúng đắn.
Một lý do khác được Neumann đưa ra là cá nhân chấp nhận sự đồng tình với số đông nhằm mục đích tăng thêm kiến thức. Tuy nhiên, lý do đầu tiên, nghĩa là yếu tố tâm lý cá nhân, chiếm vai trò quyết định. Có thể nhận thấy tâm lý bầy đàn của con người đã khiến cho người ta sợ hãi bị tách khỏi nhóm, bị cô đơn. Sống trong tập thể, chia sẻ các ý kiến dường như khiến họ cảm thấy được bảo vệ và che chở.
Nhấn mạnh về thời điểm nói và thời điểm giữ im lặng, Neumann cho biết : Khi các cá nhân cho rằng quan điểm của họ mang tính phổ biến và được ủng hộ bởi những người khác, họ sẽ nói trước đám đông với thái độ tự tin. Mặt khác, những cá nhân cho rằng quan điểm của họ là không phù hợp, hoặc khi họ thấy họ ở nhóm yếu thế, họ sẽ có khuynh hướng giữ thái độ dè dặt và im lặng.
Lý thuyết vòng xoắn im lặng được vận dụng để lý giải rất nhiều hiện tượng trong đời sống xã hội. Neumann đã lý giải một cách sâu xa thái độ, tâm lý, tình cảm của con người khi tham gia nhóm, cộng đồng và dư luận xã hội. Lý thuyết vòng xoắn im lặng đã mô tả được xu hướng hành vi của con người trong từng điểm: thời điểm khi cá nhân hiểu chắc chắn tiếng nói của mình được đông đảo chấp nhận; thời điểm im lặng khi ý kiến đó ít hoặc không được chia sẻ bởi những người khác. Điều này đã đặt ra vấn đề là không phải khi nào nhóm đa số cũng đúng.
Trong trường hợp nhóm thiểu số nắm quyền lực thì sao? Phải chăng dư luận xã hội sẽ nghiêng về nhóm này và vòng xoắn im lặng sẽ rơi vào số đông không có quyền lực? Sự sáng tạo của các cá nhân được đặt ở đâu nếu họ liên tục phải lo sợ sự cô lập và ghẻ lạnh của những người xung quanh ?
“Vòng xoắn im lặng” và cơ chế phản biện xã hội ở nước ta hiện nay
Thuyết vòng xoắn im lặng đặt ra rất nhiều vấn đề mà chúng ta phải cân nhắc, suy nghĩ. Khi trong một nhóm, hoặc rộng hơn- một xã hội mà ở đó các cá nhân không dám công khai bày tỏ quan điểm của mình thì mọi thứ dường như sẽ diễn ra thuận chiều ở bề mặt và nghịch chiều ở lớp sâu của các mối quan hệ.
Nó sẽ dẫn đến hậu quả là những xung đột ngầm khiến nhà quản lý khó kiểm soát và xác định nguyên nhân để có thể hạn chế. Bên cạnh đó, họ cũng khó mà nhận thức được chân lý khi xung quanh mình toàn là những ý kiến đồng tình mà ít có ý kiến phản đối.
Về mặt khái niệm, phản biện là “nhận xét và đánh giá về một công trình khoa học (luận án, luận văn, khoá luận hoặc kết quả nghiên cứu khoa học của một đề tài, một chương trình nghiên cứu… ). Người (hay cơ quan) phản biện nhận định về tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài, nội dung và hình thức thể hiện của công trình khoa học, phương pháp nghiên cứu, kết luận, đóng góp, hạn chế… cuối cùng đánh giá chung là đạt hay không đạt những yêu cầu đề ra, xếp loại…”[1] ; và “Phản biện xã hội là sự phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân, và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội. Ở nước ta, phản biện xã hội là phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước… nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Phản biện xã hội là nhu cầu cần thiết và đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước, khắc phục tệ quan liêu… [2]
Xuất phát từ khái niệm trên, có thể thấy vai trò quan trọng của phản biện xã hội trong đời sống xã hội. Phản biện là một cách để duy trì dân chủ, đảm bảo mọi ý kiến, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân đều được xem xét để triển khai thực hiện trong thực tiễn. Chính vì thế, Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ[3].
Như vậy, phản biện xã hội đã thực sự trở thành vấn đề lớn trong công tác của Đảng và Nhà nước. Phản biện xã hội được tiến hành hết sức rộng rãi nhằm tập hợp ý kiến đóng góp của người dân đối với các chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước, thăm dò ý kiến về dự thảo luật, về uy tín của các nhà lãnh đạo, về việc bỏ phiếu bầu cử, đề bạt... Điều đó cho thấy tính dân chủ ngày càng được mở rộng hơn, kích thích sự chủ động của người dân trong mọi hoạt động xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao để người dân tham gia một cách tích cực và trung thực vào “diễn đàn” phản biện xã hội để hoạt động này thực sự mang lại hiệu quả đối với công tác quản lý đất nước? Liệu rằng khi họ nói thật quan điểm của mình, vị thế và lợi ích của họ có bị ảnh hưởng hay không?… Hay nói cách khác, làm sao để số người rơi vào “vòng xoắn im lặng” chiếm tỷ lệ thấp nhất và ngược lại, số người dám công khai bày tỏ quan điểm của mình chiếm tỷ lệ cao nhất?
Có một thực tế là ở nước ta tình trạng “vòng xoắn im lặng” dường như cũng là điều khó tránh khỏi. Trong nhiều trường hợp, người dân biết và thấy những hiện tượng sai trái nhưng không nói ra hoặc nói ra những điều không đúng với suy nghĩ, cảm xúc thật của chính họ. Nói như thuyết vòng xoắn im lặng thì vì nếu nói ra, họ sợ bị xa lánh, bị cô lập vì ý kiến của mình trái với ý kiến của đa số, họ sợ sẽ bị trù dập, sợ mất lòng cấp trên, sợ mất lợi ích,…
Như vậy, nguyên nhân trực tiếp làm xuất hiện vòng xoắn im lặng trong đời sống xã hội ở nước ta cũng chính là do tâm lý lo ngại về sự không an toàn khi nói ra sự thật. Chính tâm lý cộng đồng đã khiến cái “tôi” của cá nhân bị nhòa lẫn trong cái “ta” chung, khiến các cá nhân không dám nêu lên quan điểm của riêng mình. Trong những tình huống bị buộc phải lên tiếng thì thói quen thay thế chân lý bằng sự phục tùng tâm lý cộng đồng đã thắng thế và điều này đã ngăn cản nhiều cá nhân nói ra ý nghĩ của riêng mình.
Phản biện xã hội, mặc dù đã được nêu lên trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, song cơ chế phản biện xã hội ở nước ta vẫn chưa phát huy được mạnh mẽ. Do chưa có cơ chế bảo vệ các cá nhân và tập thể khi họ nói thực quan điểm của mình, nhiều cá nhân đã chỉ nói ngoài tổ chức chứ không dám phản biện chính thức. Điều này có thể gây ra tình trạng nhiễu thông tin, khiến nhà quản lý rất khó kiểm soát những tin đồn thất thiệt. Chúng ta cần xây dựng cơ chế bảo vệ và nghiên cứu các ý kiến khác biệt, tức là tôn trọng sự khác biệt trong tính đa dạng của sự thống nhất. Điều đó, sẽ giúp chúng ta thu được những thông tin xác đáng và tâm huyết cho công tác hoạch định chính sách của Nhà nước.
Chúng ta cũng cần xây dựng văn hóa quản lý. Nhà quản lý phải biết lắng nghe ý kiến từ phía phản biện một cách cầu thị, phân định rạch ròi đúng- sai một cách công tâm, khách quan dựa trên những căn cứ khoa học, hợp tình, hợp lý.
Thuyết vòng xoắn im lặng hoàn toàn có thể vận dụng vào việc nghiên cứu về cơ chế phản biện xã hội ở nước ta hiện nay. Thông qua việc tạo lập bầu không khí khách quan, khoa học trong nhìn nhận, đánh giá về mọi ý kiến phản biện, chúng ta tin rằng nền dân chủ của chúng ta sẽ ngày càng được phát huy rộng rãi .


[1] Từ điển bách khoa Việt Nam – NXB từ điển bách khoa - H - 2003 – T3 – tr 407.
[2] Tìm hiểu Một số thuật ngữ trong Văn kiện đại hội X của đảng – NXBCTQG – H – 2006 tr – 182 – 183.
[3] Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của đảng – NXBCTQG – H 2006 – tr – 135

Tác giả: Đặng Thị Lệ Thu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIỚI THIỆU CHUNG

Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển (TaDRI) là một tổ chức khoa học công nghệ phi chính phủ, phi lợi nhuận được thành lập theo quyết định số 1364/QĐ - LHH của Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam ngày 11/10/2006 và giấy phép hoạt động khoa học công nghệ số A-571 do Bộ Khoa học...

Đọc nhiều nhất