07:45 ICT Thứ hai, 24/07/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 55


Hôm nayHôm nay : 699

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 38532

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2027586

Tỷ giá ngoại tệ

Tháng Bảy 24, 2017, 7:06 am
Code Buy Transfer Sell
AUD 17,843.39 17,951.10 18,111.22
CAD 17,785.14 17,946.66 18,179.31
CHF 23,579.67 23,745.89 24,053.71
DKK - 3,501.37 3,611.19
EUR 26,264.06 26,343.09 26,604.29
GBP 29,117.22 29,322.48 29,584.01
HKD 2,869.46 2,889.69 2,933.01
INR - 352.33 366.16
JPY 200.15 202.17 203.97
KRW 18.69 19.67 20.90
KWD - 74,998.81 77,942.95
MYR - 5,271.75 5,340.09
NOK - 2,783.68 2,870.99
RUB - 384.84 428.83
SAR - 6,048.55 6,285.99
SEK - 2,731.42 2,800.23
SGD 16,436.32 16,552.19 16,733.25
THB 664.07 664.07 691.78
USD 22,700.00 22,700.00 22,770.00

Trang nhất » Tin Tức » Truyền thống & Phát triển » Di sản văn hóa

Quang cao giua trang
top

NHẠC KHỊ - HẬU TỔ CỔ NHẠC BẠC LIÊU MỘT NHÀ VĂN HÓA TUYỆT VỜI

Tác giả: Trần Phước Thuận - Thứ tư - 11/06/2014 15:19
NHẠC KHỊ - HẬU TỔ CỔ NHẠC BẠC LIÊU MỘT NHÀ VĂN HÓA TUYỆT VỜI

NHẠC KHỊ - HẬU TỔ CỔ NHẠC BẠC LIÊU MỘT NHÀ VĂN HÓA TUYỆT VỜI

Là người Bạc Liêu đầu tiên có công trong việc canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa hai mươi bản Tổ để làm cơ sở cho phát triển của cổ nhạc và cải lương Nam bộ, Nhạc Khị người nghệ sĩ tài danh đã có công đào tạo được nhiều nhạc sĩ cải lương nổi tiếng như : Sáu Lầu, Cai Đệ, Mười Khói, Ba Chột, Tư Bình, Hai Tài,Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân, Thiện Thành, Tư Quận, Hai Tố, Năm Phát, Chín Khánh, Sáu Gáo, Mộc Thái, Tám Tu, Năm Nhu, Năm Nhỏ, Lý Khi … Không chỉ tạo ra được một lực lượng nhạc sĩ hùng hậu cho các ban nhạc cổ truyền, mà chính ông đã tạo dấu ấn quan trọng cho các phong trào đàn ca tài tử, ca ra bộ và sân khấu cải lương Nam bộ trong buổi đầu.
Tên thật của ông là Lê Tài Khí, người trong xóm thường gọi Hai Khị. Ông sinh vào khoảng tháng 3 năm Canh Ngọ (1870) tại thôn Láng Giài thuộc tổng Thạnh Hoà ( lúc đó thuộc phủ Ba Xuyên, nay là ấp Láng Giài thuộc huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu). Từ lúc mới sinh ra Nhạc Khị đã mang dị tật – hai mắt bị mù, hai tay nhỏ nhắn và bị cong như cán dá; trong những năm bé thơ Nhạc Khị đã bị bệnh triền miên, lúc hơn mười tuổi bị trúng phong phải nằm liệt giường đến ba năm mới hết; sau khi khỏi bệnh, một bên chân bị liệt, chân còn lại cũng cử động khó khăn, hai tay vốn bị tật bẩm sinh nay thêm bị bệnh nặng nên càng thêm yếu ớt
Cha của ông là một thầy đàn, thấy con mình bị mù loà, bệnh tật không thể học được nghề nào khác nên đã đem tất cả khả năng và sự hiểu biết của mình về nhạc để truyền thụ lại cho con. Nhạc Khị vốn là một cậu bé thông minh, lại có năng khiếu về đàn nên chẳng bao lâu đã hấp thụ toàn bộ sở học của người cha. Có điều cha của ông không phải là một thầy đàn giỏi nên ông chỉ học ở cha một số ít bài bản, nhưng ông lại không cam tâm dừng ở đó mà ngày đêm chuyên cần tự học, tự tìm hiểu, lại cố tạo mọi điều kiện để học những ngón hay, bản lạ của các thầy đàn cao tuổi . Nhờ tính kiên nhẫn và trí thông minh tuyệt vời, nên chẳng bao lâu ông đã trở thành một thầy đàn nổi tiếng, có thể nói là một nhạc sư giỏi nhất ở vùng Bạc Liêu.
Theo lời ông Cao Văn Hoai (con thứ tư của nhạc sĩ Cao Văn Lầu) thì trí nhớ của Nhạc Khị không thể tưởng tượng được – ông chỉ cần nghe ai đàn hoặc ca bất cứ bài bản nào trong một hai lần, ông đều có thể đàn hoặc ca lại giống y như thế ;  dù cho chữ đàn rắc rối đến đâu ông cũng lập lại rất dễ dàng . Cho nên tuy ông không chính thức thọ giáo với ai (ngoài cha ông) nhưng tinh hoa của các thầy đàn lão luyện ở đây ông đều thụ đắc. Hơn thế nữa, những gì thụ đắc được ông đều tự cải biên cho phong phú hơn ; bất cứ bài bản nào qua tay ông đều được sàng loc và đẽo gọt rất kỹ càng.
Là người khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, từ lâu Nhạc Khị đã được giới nghệ sĩ cổ nhạc tôn xưng là Hậu Tổ. Tư tưởng và sáng tác của ông không những đã làm kim chỉ nam cho các hoạt động cổ nhạc ở Bạc Liêu, mà còn gây ảnh hưởng sâu rộng đến các phong trào ca nhạc cổ ở nhiều nơi, nhiều tỉnh trong những thập niên đầu thế kỷ XX. Có thể nói Nhạc Khị là cây đòn bẩy cứng cáp đã tạo được sức bật ban đầu trong quá trình phát triển cổ nhạc Nam bộ nói chung và Bạc Liêu nói riêng.
          Ông được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước ta bị thực dân Pháp xâm chiếm, đặt ách thống trị trên toàn lãnh thổ, nhân dân ta phải sống trong cảnh cơ cực, lầm than. Lúc đó, các phong trào yêu nước liên tiếp nổi lên và ông là một trong giới cầm ca sử dụng lời ca tiếng nhạc của mình để cổ vũ tinh thần yêu nước. Năm 30 tuổi, ông đã thành lập ban nhạc cổ, bề ngoài là một ban nhạc phục vụ các buổi ma chay, tiệc tùng, lễ lạc, như các ban nhạc khác để kiếm sống, nhưng thực chất đây là một “lò” đào luyện ca nhạc sĩ Bạc Liêu, cũng vừa làm phương tiện để tuyên truyền những bài ca yêu nước.
          Việc đào tạo của ông cũng khác xa mọi người, cách dạy đàn của ông không phải là để cho người học chỉ biết đàn mà phải biết sáng tác. Đối với ông,  nghệ thuật dĩ nhiên phải mang tính nghệ thuật nhưng phải phục vụ con người và đất nước, vì vậy các việc sáng tác theo ông chỉ nên xoay quanh các vấn đề hoàn cảnh đất nước, phải khắc họa được những hình ảnh trung thực nhất lúc bấy giờ.
Để cụ thể hóa việc dạy học trò, ông đã nêu gương trước. Ông cải biên bài Nam ai cổ mang tên Tô Huệ chức cẩm hồi văn  và từ đó rút ra chủ đề Chinh phụ vọng chinh phu để hướng dẫn học trò và các thành viên của ban nhạc sáng tác. Đây là chủ đề  mang tính bi kịch cao, dể làm xúc động lòng người, dễ nắn nót thành lời ca tiếng nhạc và chủ đề tuy mượn tích xưa nhưng đã phản ánh rõ những gì trong hiện tại - đã chỉ ra cái nỗi khổ sầu, cái cảnh ly tan đau đớn có thật - cái cảnh mà người dân đang nặng mang. Ông muốn mượn câu ca tiếng đàn để gợi lại cái cảnh đoạn trường con xa cha, chồng xa vợ, gia đình ly tán do giặc Pháp đã gây ra.
          Hầu hết học trò cùng các thành viên ban nhạc đều tiếp thu sâu xa lời dạy và thừa kế tinh thần yêu nước nồng nàn của ông, họ đã sáng tác những tác phẩm tuyệt vời như : Dạ cổ hoài lang của Sáu Lầu ; Tam quan nguyệt, Liêu giang của Ba Chột ; một số lời ca : Đưa chồng ra mặt trận, Chinh phụ thán, Sầu chinh phụ của Trịnh Thiên Tư … Tuy mỗi người mỗi vẻ với nghệ thuật độc đáo riêng, nhưng cái chung vẫn là hình ảnh tái tê của người chinh phụ đang mỏi mắt trông chồng.
          Ngoài chủ đề này Nhạc Khị còn sáng tác nhiều nhạc phẩm được lưu hành rộng rãi ở Nam bộ từ đầu thế kỷ, tiêu biểu nhất là bốn bản: Ngự giá đăng lâu (14 câu nhịp 4) , Ái tử kê (12 câu nhịp 4), Minh Hoàng thưởng nguyệt (18 câu nhịp 4) và Phò mã giao duyên (12 câu nhịp 4), đã được nghệ sĩ các nơi gọi là Tứ Bửu; điệu nhạc của các bản này vô cùng thống thiết, đã diễn tả được nỗi thương tâm cùng tột của con người sống trong cảnh nước mất nhà tan. Riêng bản Ái tử kê, khi sáng tác ông đã liên tưởng cái cảnh “chít chiu” của bầy gà con mất mẹ với cái cảnh thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình Huế đầu hàng giặc bỏ mặc người dân bơ vơ đau khổ, trong lúc xúc động ông đã sáng tác bản cổ nhạc hi hữu này - một nhạc phẩm tuyệt vời - điệu nhạc khi bổng khi trầm như oán như than, đã khắc họa được cái nỗi đoạn trường của người dân mất nước.
Nhạc Khị  là người tiên phong xây dựng phong trào ca nhạc tài tử và ca ra bộ ở Bạc Liêu; có công hệ thống hóa và chỉnh tu các loại bài bản nhạc cổ ở Nam bộ; sáng tác những nhạc phẩm có nhiều ưu điểm về mặt nghệ thuật và có tác dụng cổ vũ tinh thần yêu nước của người miền Nam trong những ngày đầu thế kỷ XX ; ông đã đề ra chủ trương sáng tác rất phù hợp với nghĩa nước lòng dân, phù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ và những chủ đề sáng tác đậm đà bản sắc dân tộc.
Với những đóng góp to lớn cho nhạc cổ nên không riêng gì giới nghệ sĩ Bạc Liêu mà cả một số lớn ca nhạc sĩ  ở các nơi khác đều gọi Nhạc Khị là Hậu Tổ và đều thành tâm chiêm bái, tưởng niệm ông vào ngày giỗ tổ cổ nhạc 12 tháng 8 âm lịch hằng năm. Hiện nay tại phường 5 thành phố Bạc Liêu đã có con đường mang tên Nhạc Khị nằm song song với đường Cao Văn Lầu. Hai thầy trò của ông chính là hai nhà văn hóa tiền bối đã được người Bạc Liêu đời đời tưởng nhớ.

Tác giả: Trần Phước Thuận

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

GIỚI THIỆU CHUNG

Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển (TaDRI) là một tổ chức khoa học công nghệ phi chính phủ, phi lợi nhuận được thành lập theo quyết định số 1364/QĐ - LHH của Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam ngày 11/10/2006 và giấy phép hoạt động khoa học công nghệ số A-571 do Bộ Khoa học...

Đọc nhiều nhất