12:04 ICT Chủ nhật, 29/01/2023

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 170

Máy chủ tìm kiếm : 103

Khách viếng thăm : 67


Hôm nayHôm nay : 12111

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 652814

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 17539168

Tỷ giá ngoại tệ

Tháng Một 29, 2023, 11:30 am
Code Buy Transfer Sell
AUD 16.00 16.00 16.00
CAD 17.00 17.00 17.00
CHF 24.00 25.00 25.00
CNY 3.00 3.00 3.00
DKK - 3.00 3.00
EUR 24.00 25.00 26.00
GBP 28.00 28.00 29.00
HKD 2.00 2.00 3.00
INR - 286.73 298.23
JPY 175.71 177.48 186.02
KRW 16.43 18.26 20.02
KWD - 76.00 79.00
MYR - 5.00 5.00
NOK - 2.00 2.00
RUB - 322.13 356.65
SAR - 6.00 6.00
SEK - 2.00 2.00
SGD 17.00 17.00 18.00
THB 630.64 700.72 727.64
USD 23.00 23.00 23.00

Trang nhất » Tin Tức » Truyền thống & Phát triển » Thời đàm

Quang cao giua trang
top

Biển- với tính chất là thành lũy quốc phòng của người Việt (Kỳ 1)

Tác giả: Đặng Vũ cảnh Linh - Thứ sáu - 23/05/2014 21:17
Biển- với tính chất là thành lũy quốc phòng của người Việt (Kỳ 1)

Biển- với tính chất là thành lũy quốc phòng của người Việt (Kỳ 1)

Là một quốc gia luôn luôn bị ngoại xâm đe dọa, người Việt Nam bao giờ cũng coi bờ biển dài hàng nghìn cây số của mình như là một thành lũy an ninh quốc phòng quan trọng. Đột nhập vào Việt Nam từ biển thường vẫn là một hướng xâm lược quan trọng mà kẻ thù luôn lợi dụng.
Là một quốc gia luôn luôn bị ngoại xâm đe dọa, người Việt Nam bao giờ cũng coi bờ biển dài hàng nghìn cây số của mình như là một thành lũy an ninh quốc phòng quan trọng. Đột nhập vào Việt Nam từ biển thường vẫn là một hướng xâm lược quan trọng mà kẻ thù luôn lợi dụng.

Bởi vậy, văn hóa biển của người Việt, bao giờ cũng là văn hóa của những người canh giữ biên giới. Lịch sử cho thấy, từ khi dựng nước đến nay, trong những mốc son quan trọng của công cuộc bảo vệ tổ quốc chống ngoại xâm luôn luôn xuất hiện những trận thủy chiến. Nhà nước Việt Nam, thời kỳ nào cũng vậy luôn coi biển - đảo như là những đồn lũy cho an ninh quốc phòng.

Có thể kể ra nhiều chiến công oanh liệt trong việc bảo vệ vùng biển của cha ông chúng ta. Những chiến công này đã bồi đắp nên giá trị văn hóa và kinh nghiệm chiến tranh quân sự trên biển và bờ biển của người Việt. Nhiều địa điểm cửa sông, bờ biển đã trở thành những bãi chiến trường, ghi dấu chiến công giữ nước. Thời Hai Bà Trưng (thế kỷ I), nữ tướng Lê Chân vừa có nhan sắc, vừa giỏi võ nghệ, lại tinh thông binh pháp, đã là người đã khai phá vùng cửa sông Cấm – Hải Phòng ngày nay, khi đó gọi là “Hải tần phòng thủ”. Bà một trong những chiến binh hải quân đầu tiên của dân tộc được ghi danh trong sử sách. Bà đã chỉ huy thủy quân giữ vững một dải bờ biển Hải Phòng.

Lịch sử cũng nhắc đến lần lượt những trận thủy chiến vang dội mà sau này, tiến sĩ Giang Văn Minh, khi đi sứ Trung Hoa đã khẳng khái nhắc nhở kẻ xâm lược trong một về đối nổi tiếng: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (xin đừng quên rằng, sông Bạch Đằng ngay từ xa xưa đã đỏ vì máu của kẻ xâm lược). Các trận Bạch Đằng lần thứ nhất (năm 938 – dưới thời Ngô Quyền) chống quân Nam Hán, trận Bạch Đằng lần thứ hai (năm 981 – dưới thời Lê Hoàn) chống quân Tống, và lần thứ ba (năm 1288 – Trần Hưng Đạo chỉ huy) chống quân Nguyên đều là những mốc son trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc gắn liền với văn hóa biển. Những chiến công này đã góp thêm kinh nghiệm thủy chiến cho quân và dân ta.

Có thể thấy, trên biển cũng như trên đất liền, mỗi khi gặp phải quân xâm lược đông và mạnh hơn mình nhiều lần, quân và dân ta đều dùng chiến tranh nhân dân, lợi dụng sự chủ quan của địch, dụ chúng vào sâu trong trận rồi phục kích bằng kỳ binh, mà kỳ binh độc đáo nhất chính là thủy triều và bãi cọc trên sông Bạch Đằng. Đó cũng là triết lý chiến tranh hầu như xuyên suốt lịch sử giữ nước của chúng ta.

Trương Hán Siêu đã viết trong Bạch Đằng giang phú:

 “Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.”

Ngay từ thời Lý, triều đình đã thiết lập những cơ quan hành chính ở các địa phương ven biển, với cơ cấu các Trang (Trang Vân Đồn quản lý vùng biển Đông Bắc). Đến thời Trần, các trang nói trên lại được nâng lên thành các Trấn trực thuộc, trực tiếp chịu sự quản lý của triều đình. Tới thời nhà Lê, chính quyền trung ương lại đặt thêm các trạm Tuần Kiểm nhằm quản lý đất – biển, thu thuế tàu thuyền qua lại, bảo vệ cương thổ nước nhà.

Nhà nước cũng thành lập các Hải đội vừa tuần phòng, vừa đo đạc, nắm biết và hoàn thiện bản đồ các vùng biển và đảo, có ghi chú cụ thể, chi tiết. Các bản đồ cổ thời Trần, Lê đều đã xác định được khá chi tiết một số đặc điểm về địa chất, núi non, sóng gió của khá nhiều vùng biển quan trọng của đât nước.

Trong “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đã ghi chép khá cụ thể về hai quần đảo của nước ta với tên gọi: “Hoàng Sa”“Vạn Lý Trường Sa”. Ông viết :“Ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Tư Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến; phía ngoài nữa có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để đi lấy, đi ba